Nước Cất Là Gì và Có Nên Uống Nước Cất Hay Không?

0
276

Nnuoc cat tot cho suc khoeước cất hiện đang gây ra nhiều tranh cãi.

Bạn có thể đọc được ở đâu đó rằng uống nó rất có lợi, hoặc cũng có thể gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe.

Bài viết này đưa ra một cái nhìn tổng quan về nước cất và những ảnh hưởng tiềm tàng của nó đối với sức khỏe.

Nước cất là gì?

Nước cất là nước đã được tinh chế qua quá trình chưng cất.

Chưng cất là quá trình khi bạn đun sôi nước, và sau đó ngưng tụ phần hơi nước sạch vào một chỗ chứa mới.

Làm như vậy giúp loại bỏ tất cả tạp chất, khoáng chất và các loại chất khác, tạo ra nước tinh khiết.

Việc chưng cất nước đã diễn ra hàng nghìn năm qua. Ban đầu nó được dùng để loại bỏ muối từ nước biển nhằm phục vụ cho mục đích uống nước.

Ngày nay, nó được áp dụng trong các công đoạn đòi hỏi nước sạch, không chứa khoáng chất. Ví dụ như trong phòng thí nghiệm, các bệnh viện, các trung tâm bảo trì ô tô và bể cá thủy sinh.

Ngoài ra, nước cất thi thoảng còn được dùng để pha chế một số loại bia, ví dụ như bia Pilsner. Tuy nhiên hương vị của nó có thể không phù hợp cho việc ủ bia ở nhà.

Cuối cùng thì nước cất cũng được tiêu thụ như một loại nước giải khát hoặc được dùng trong nấu ăn tương tự như nước đóng chai hoặc nước máy.

Tóm lại: Nước cất đã được loại bỏ các tạp chất. Nó thường được dùng trong phòng thí nghiệm, bệnh viện, ô tô, bể cá thủy sinh, pha chế bia cũng như dùng để uống thông thường.

Nước cất được làm ra như thế nào?

nuoc cat duoc lam ra bang cach dun soi va ngung tu hoi nuoc
Quá trình làm ra nước cất rất đơn giản

Nước cất được sản xuất bằng cách đun sôi nước để tạo ra hơi nước, sau đó được làm lạnh và ngưng tụ lại thành nước.

Vì các chất gây ô nhiễm và các khoáng chất đều có điểm sôi cao hơn nước, nên chúng sẽ bị sót lại trong quá trình đun sôi.

Loại máy cất nước cho gia đình phổ biến nhất, được biết đến như một chiếc máy chưng cất đơn, làm nóng nước trong nồi đun cho đến khi nó bốc hơi.

Hơi nước được rút ra, sau đó làm lạnh và ngưng tụ lại thành dạng nước, các chất ô nhiễm có hại sẽ ở lại trong bồn chứa.

Máy chưng cất nén hơi có thể sản xuất tới 5000 gallon nước mỗi ngày (18,927 lít Mĩ). Máy dùng một buồng đơn để chuyển nước sang dạng hơi nước. Hơi nước sau đó đi qua một máy nén và ngưng tụ thành nước trong buồng cuối cùng.

Cuối cùng, việc chưng cất đa tác động gồm nhiều buồng đun sôi được kết nối bằng nhiều ống và có thể cung cấp hàng triệu gallon nước cất mỗi ngày cho nhu cầu thương mại.

Tóm lại: Nước cất được sản xuất bằng cách đun sôi nước để sản xuất ra hơi nước, sau đó cô đọng chúng thành nước không có tạp chất và khoáng chất.

Các lợi ích của nước cất

Nước cất có thể có nhiều lợi ích hơn nhiều loại nước khác.

Nước cất không chứa hóa chất và chất độc

Bởi vì tất cả các tạp chất của nó đã được loại bỏ trong quá trình chưng cất, về cơ bản thì nước cất không chứa hóa chất.

Hầu hết các quốc gia đều theo dõi nước máy để đảm bảo rằng nó đáp ứng được các tiêu chuẩn về mặt hóa chất và các chất hóa học khác.

Tuy nhiên, các mức an toàn chưa được thiết lập cho tất cả các chất hóa học trong nước, bao gồm một số loại thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ. Một nghiên cứu đã tìm ra 13 loại thuốc diệt cỏ trong nước uống từ một vùng nông thôn Hoa Kỳ, chỉ có 7 trong số đó ở mức an toàn (1).

Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu cho rằng các phương pháp sàng lọc hiện tại có thể không phát hiện chính xác được các chất độc hại, ví dụ như các sản phẩm khử trùng (DBP), được sinh ra trong quá trình diệt khuẩn (2, 3, 4).

Nồng độ thuốc trừ sâu và các loại chất hóa học khác trong nước máy sẽ phụ thuộc vào vị trí địa lý và các cơ quan xử lý nước ở khu vực bạn sống.

Ngược lại nước cất không chứa thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ hay hóa chất. Nó đơn giản là 100% nước tinh khiết.

Tóm lại: Nước cất không chứa hóa chất và các chất độc mà có thể tìm thấy ở nước uống thông thường.

Nước cất không có vi khuẩn và các loại vi trùng khác

nuoc cat khong chua vi khuan va vi trung doc hai
Nước cất phù hợp để dùng hơn cho những bệnh nhân mắc các bệnh nhất định

Nước máy ở các nước phương Tây nhìn chung nằm trong giới hạn an toàn và chấp nhận được về vi rút, vi khuẩn và các vi trùng khác. Tuy nhiên, những loại vi khuẩn này có với số lượng nhỏ trong hầu hết các nguồn cung cấp nước uống công cộng trên toàn thế giới (5, 6).

Thỉnh thoảng, chúng có thể đạt đến mức không an toàn tạm thời khi nước vô tình bị nhiễm bẩn (7).

Tuy nhiên, ngay cả một lượng nhỏ vi khuẩn trong nước máy cũng có thể gây nguy hiểm tới sức khỏe của những người có hệ miễn dịch yếu, ví dụ như một số bệnh ung thư nhất định hoặc mắc HIV/AIDS.

Nước cất sẽ loại bỏ tất cả các loại vi khuẩn và các vi sinh vật khác mà thi thoảng có thể tìm thấy trong nước uống thông thường

Tóm lại: Nước cất không chứa vi khuẩn hoặc các loại vi trùng độc hại xuất hiện trong nước uống thông thường với lượng nhỏ. Điều này làm nước cất phù hợp để dùng hơn cho những bệnh nhân mắc các bệnh nhất định.

Nước cất không chứa Clo

Trong vòng hơn 100 năm qua, clo đã được dùng làm chất khử trùng trong nước uống. Nói chung nó được cho là an toàn và có hiệu quả trong việc tiêu diệt vi trùng và ngăn ngừa các bệnh lây lan thông qua nguồn nước

Tổ chức EPA đã đặt ra mức clo an toàn là 4mg/1 lít hoặc 4 phần triệu, việc này được giám sát cực kỳ chặt chẽ.

Tuy nhiên phản ứng của clo với một số hợp chất trong nước có thể sản sinh ra DBP gây độc hại. Một số chuyên gia tin rằng chúng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư (4, 8).

Hơn nữa, một số người nhận thấy mùi vị của nước chứa clo khá là khó chịu.

Nước cất không chứa clo hoặc DBP, mặc dù quá trình loại bỏ clo khác với quá trình loại bỏ các tạp chất khác.

Không giống như các khoáng chất khác, clo có điểm sôi thấp hơn nước và DBP cũng vậy. Do đó, chúng được đun sôi riêng biệt trong quá trình chưng cất hoặc loại bỏ tạp chất thông qua bộ lọc carbon.

Tóm lại: Clo và các chất DBP độc hại có trong nước uống thông thường với hàm lượng nhỏ. Nước cất không chứa clo và DBP.

Một số giai thoại về nước cất

nuoc cat bi nhieu nguoi hieu lam
Nước cất bị hiểu nhầm về nhiều mặt

Có một số giai thoại được truyền tai về việc uống nước cất.

Nước cất gây ra một số vấn đề sức khỏe bởi nó đã bị loại bỏ các khoáng chất

Ngoài việc loại bỏ các hóa chất và vi khuẩn, quá trình chưng cất cũng loại bỏ các khoáng chất trong nước.

Tuy nhiên, chỉ có một lượng rất nhỏ khoáng chất được tìm thấy trong nước.

Chẳng hạn trung bình ở Mỹ nước cung cấp 60 mg canxi trong khoảng 2 lít nước, chỉ bằng 6% RDI.

Ngược lại 1 ly sữa (244 gram) lại chứa 276 mg canxi, chiếm 28% RDI.

Nấu ăn bằng nước cất gây mất các khoáng chất

Khoáng chất bị mất đi trong quá trình nấu ăn có thể liên quan tới phương pháp nấu nhiều hơn là do loại nước được dùng để nấu ăn (9)

Nấu ăn với nước cất tinh chế không làm cho thực phẩm mất đi các khoáng chất hơn nước máy thông thường.

Nước cất làm hỏng răng và gây ra các vấn đề về răng miệng

Dù nước cất thiếu Flo nhưng việc đánh răng bằng kem đánh răng sẽ cung cấp đủ lượng Flo cần thiết. Không có bằng chứng cho thấy uống nước cất làm răng bị sâu hay xỉn màu.

Nước cất có tính axit quá cao

Việc loại bỏ các khoáng chất khỏi nước sẽ làm giảm độ pH, nên làm cho nước cất hơi chua hơn nước máy.

Tuy nhiên không có bằng chứng nào chứng minh việc này là có hại. Cơ thể người khỏe mạnh duy trì rất hiệu quả độ pH của mình.

Tóm lại: Một số nghiên cứu nói rằng nước cất đã bị loại bỏ quá nhiều khoáng chất, dẫn đến việc mất đi các chất có lợi trong quá trình nấu ăn, gây ra các vấn đề răng miệng và quá chua. Tuy nhiên các vấn đề này không được chứng minh bằng khoa học.

Có nên uống nước cất hay không?

Uống nước cất dường như không có bất kỳ ảnh hưởng tiêu cực nào đến sức khỏe.

Một số người có thể không thích hương vị của nó khi uống hoặc nấu ăn cho lắm. Tuy nhiên nước cất không có hại và thậm chí có nhiều lợi ích cho những người có hệ miễn dịch yếu.

Mặc dù thế thì việc uống nước cất hay không vẫn là sự lựa chọn của cá nhân mỗi người. Tại thời điểm này, không có bất kỳ bằng chứng thuyết phục nào cho thấy rằng nó là tốt hơn hay tệ hơn các loại nước khác.

Đọc thêm về nước:

Chia sẻ

Để lại một trả lời

Hãy là người đầu tiên nhận xét!

Thông báo cho
avatar
wpDiscuz